Trang Chủ - LINTECH JSC
15250
home,page-template-default,page,page-id-15250,bridge-core-1.0.6,unselectable,mega-menu-top-navigation,ajax_fade,page_not_loaded,,qode-title-hidden,qode_grid_1400,qode-theme-ver-18.2,qode-theme-bridge,disabled_footer_bottom,qode_header_in_grid,wpb-js-composer js-comp-ver-6.0.5,vc_responsive,elementor-default,elementor-page elementor-page-15250

LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG KHÁCH HÀNG VÀ ĐẶT LỢI ÍCH CỦA BỆNH NHÂN LÊN HÀNG ĐẦU

SẢN PHẨM

ỨNG DỤNG

* HÔ HẤP
* TIÊU HÓA
* HAI
* STI

 

BỆNH TRUYỀN NHIỄM

* HÔ HẤP
* TIÊU HÓA
* HAI
* STI

 

NHIỄM KHUẨN – VIRUS

 

 

 

UNG THƯ – DI TRUYỀN

 

 

 

GIÁM SÁT SAU CẤY GHÉP

TIN TỨC CÔNG TY

Lintech JSC. đã hoàn tất việc lắp đặt, hướng dẫn sử dụng và đánh giá kết quả  của hệ thống tích hợp tự động hoàn toàn Realtime PCR Alinity m đầu tiên tại Việt Nam

Hệ thống xét nghiệm Alinity m – Alinity là hệ thống xét nghiệm thế hệ mới của Abbott được thiết kế để đơn giản hóa việc chẩn đoán, nhằm giúp phòng xét nghiệm trả kết quả chính xác. Công nghệ phân tử mới này sẽ giúp theo kịp nhu cầu ngày càng tăng về xét nghiệm bệnh truyền nhiễm. Alinity m sẽ cung cấp sự linh hoạt chưa từng có trong thử nghiệm chẩn đoán phân tử, cho phép thực hiện nhiều thử nghiệm hơn trong các khung thời gian ngắn hơn, đồng thời giảm không gian và số lượng dụng cụ cần thiết để tiến hành một lượng lớn xét nghiệm.

TIN TỨC CHUYÊN NGÀNH

Báo Mỹ đánh giá Việt Nam chống Covid-19 tốt nhất thế giới

Việt Nam là quốc gia đứng đầu trong 30 nước và vùng lãnh thổ được báo Politico của Mỹ xếp hạng về năng lực chống Covid-19.

Gần như tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vật lộn tìm cách mở cửa trở lại nền kinh tế một cách an toàn, trong khi tiếp tục chiến đấu với Covid-19. Tuy nhiên, một số nước đang làm tốt hơn những nước khác, Politico đánh giá. nCoV đã lây lan tới nhiều quốc gia ở những thời điểm khác nhau và mỗi nước, vùng lãnh thổ lại có cách phản ứng khác nhau phụ thuộc vào hệ thống y tế, chính trị cũng như nền kinh tế của họ. Mặc dù những điểm sáng le lói xuất hiện, đa phần mọi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có bức tranh tổng quan phức tạp.

Trẻ em đối mặt với nguy cơ biến chứng nặng và tử vong do COVID-19

Theo một nghiên cứu của nhà nghiên cứu của Rutgers, trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên có nguy cơ bị biến chứng nặng từ COVID-19 cao hơn so với suy nghĩ trước đây và những người có tình trạng sức khỏe tiềm ẩn thậm chí còn có nguy cơ cao hơn.

Nghiên cứu, được công bố trên JAMA Pediatrics, là nghiên cứu đầu tiên mô tả các đặc điểm của bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 ở trẻ em bị bệnh nặng ở Bắc Mỹ.

Đồng tác giả nghiên cứu Lawrence C. Kleinman, giáo sư và phó chủ tịch phát triển học thuật và trưởng khoa Sức khỏe Dân số, Chất lượng và Khoa học Thực hiện của Khoa Nhi khoa, Trường Y khoa Rutgers Robert Wood Johnson cho biết: “Ý tưởng rằng COVID-19 không dành cho những người trẻ tuổi là sai.”Mặc dù trẻ em dễ mắc bệnh hơn nếu chúng mắc các bệnh mãn tính khác, bao gồm cả béo phì, điều quan trọng cần lưu ý là trẻ em không mắc bệnh mãn tính cũng có nguy cơ mắc bệnh. Cha mẹ cần tiếp tục lưu tâm đến virus này một cách nghiêm túc.”

Nghiên cứu đã theo dõi 48 trẻ em và thanh niên – từ trẻ sơ sinh đến 21 tuổi – được đưa vào các Khu Chăm sóc tích cực dành cho trẻ em (PICU) ở Hoa Kỳ và Canada để điều trị COVID-19 vào tháng 3 và tháng 4. Hơn 80% có các tình trạng tiềm ẩn mãn tính, như ức chế miễn dịch, béo phì, tiểu đường, co giật hoặc bệnh phổi mãn tính. Trong số đó, 40% phụ thuộc vào công nghệ hỗ trợ do sự chậm tiến triển hoặc dị thường di truyền.

Hơn 20% đã bị hỏng hai hoặc nhiều cơ quan do COVID-19, và gần 40% yêu cầu một ống thở và máy thở. Vào cuối giai đoạn theo dõi, gần 33% trẻ em vẫn phải nhập viện do COVID-19, với ba trường hợp vẫn cần hỗ trợ máy thở và một trường hợp cần hỗ trợ sự sống. Hai trong số những đứa trẻ trong thời gian 3 tuần nghiên cứu ba tuần đã chết.

“Nghiên cứu này cung cấp một sự hiểu biết cơ bản về gánh nặng bệnh của COVID-19 ở bệnh nhân nhi”, Hariprem Rajasekhar, một bác sĩ chuyên khoa nhi khoa tham gia nghiên cứu tại Khoa Nhi -Trường Y khoa Robert Wood Johnson cho biết “Các phát hiện xác nhận rằng căn bệnh mới nổi này đã lan rộng vào tháng 3 và nó không phải là bệnh lành tính ở trẻ em.”

Các nhà nghiên cứu cho biết họ “được khuyến khích thận trọng” bởi kết quả bệnh viện trên đối tượng trẻ em đã được nghiên cứu, trích dẫn tỷ lệ tử vong 4,2% ở bệnh nhân PICU so với tỷ lệ tử vong được công bố lên tới 62% ở những người trưởng thành nhập viện vào ICU, cũng như tỷ lệ suy hô hấp thấp hơn .

Kleinman lưu ý rằng các bác sĩ ở khu vực đô thị New York đang nhìn thấy những gì dường như là một hội chứng mới liên quan đến COVID ở trẻ em.

“Mặc dù việc thu thập dữ liệu của chúng tôi cho nghiên cứu này đã kết thúc, chúng tôi vẫn tiếp tục phát triển sự hợp tác với các đồng nghiệp trong khu vực và trên cả nước để cố gắng hiểu những biến chứng nghiêm trọng hơn này”, ông nói, trong đó những lo ngại như suy tim và bệnh giống như bệnh Kawasaki – hội chứng viêm đa hệ thống thường gặp ở trẻ nhỏ là ví dụ.

Tác giả: Beth Kerber

Có thể xem bài gốc tại đây: https://www.sciencedaily.com/releases/2020/05/200511142153.htm

Journal Reference:

  1. Lara S. Shekerdemian, Nabihah R. Mahmood, Katie K. Wolfe, Becky J. Riggs, Catherine E. Ross, Christine A. McKiernan, Sabrina M. Heidemann, Lawrence C. Kleinman, Anita I. Sen, Mark W. Hall, Margaret A. Priestley, John K. McGuire, Konstantinos Boukas, Matthew P. Sharron, Jeffrey P. Burns, for the International COVID-19 PICU Collaborative. Characteristics and Outcomes of Children With Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) Infection Admitted to US and Canadian Pediatric Intensive Care UnitsJAMA Pediatrics, May 11, 2020; DOI: 1001/jamapediatrics.2020.1948

Cảnh giác với những kết quả âm tính giả trong xét nghiệm chẩn đoán COVID-19

Một trong những công cụ chẩn đoán được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt là trong đại dịch này, là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR), sử dụng mẫu hô hấp của một người để phát hiện các hạt virus và xác định xem người đó có bị phơi nhiễm với virus hay không.

 

Các chuyên gia phòng thí nghiệm trên khắp Hoa Kỳ và toàn cầu đã sử dụng RT-PCR để tìm hiểu xem một người có bị nhiễm SARS-CoV-2, loại virus gây ra COVID-19 hay không. Những thử nghiệm này đã đóng một vai trò quan trọng trong phản ứng của quốc gia chúng ta đối với đại dịch. Nhưng, trong khi chúng rất quan trọng, các nhà nghiên cứu tại Johns Hopkins đã phát hiện ra rằng khả năng có kết quả âm tính giả – khi virus không được phát hiện ở một người thực sự, hoặc gần đây đã bị nhiễm bệnh – lớn hơn 1/5 và, đôi khi, cao hơn nhiều. Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng giá trị tiên đoán của các xét nghiệm này có thể không phải lúc nào cũng mang lại kết quả chính xác và thời gian thử nghiệm dường như rất quan trọng trong độ chính xác.

 

Trong báo cáo về những phát hiện được công bố ngày 13 tháng 5 trên tạp chí Annals of Internal Medicine, các nhà nghiên cứu nhận thấy xác suất kết quả âm tính giả giảm từ 100% vào ngày 1 bị nhiễm xuống còn 67% vào ngày 4. Tỷ lệ âm tính giả giảm đến 20% vào ngày 8 (ba ngày sau khi một người bắt đầu gặp các triệu chứng). Họ cũng phát hiện ra rằng vào ngày một người bắt đầu trải qua các triệu chứng bệnh thực tế, tỷ lệ âm tính giả trung bình là 38%. Ngoài ra, tỷ lệ âm tính giả bắt đầu tăng trở lại từ 21% vào ngày 9 đến 66% vào ngày 21.

 

Nghiên cứu, đã phân tích bảy nghiên cứu được công bố trước đây về hiệu suất RT-PCR, thêm bằng chứng cho thấy nên thận trọng khi giải thích kết quả xét nghiệm âm tính, đặc biệt đối với những người có khả năng bị phơi nhiễm hoặc có triệu chứng phù hợp với COVID-19.

Johns Hopkins Medicine

Có thể xem bài gốc tại đây: https://www.sciencedaily.com/releases/2020/05/200526173832.htm

Journal Reference:

Lauren M. Kucirka, Stephen A. Lauer, Oliver Laeyendecker, Denali Boon, Justin Lessler. Variation in False-Negative Rate of Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction–Based SARS-CoV-2 Tests by Time Since ExposureAnnals of Internal Medicine, 2020; DOI: 10.7326/M20-1495

error: Content is protected !!